This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Phòng lây nhiễm virút Zika cho thai phụ

Virút Zika lây từ người bệnh sang người lành qua muỗi vằn (muỗi Aedes), bệnh có thể gây teo não ở thai nhi ở một tỉ lệ thấp, tuy vậy, không nên chủ quan nhưng cũng không nên quá lo lắng, hoang mang, đặc biệt là các thai phụ. Có thể phòng bệnh được.

Virút Zika là gì?

Được gọi tên là virút Zika là do virút này được phát hiện đầu tiên vào năm 1947 tại khu rừng Zika thuộc nước Uganda châu Phi, sau đó tiếp tục ghi nhận ở Nigeria vào năm 1954 và trở thành chủng virút lưu hành ở nhiều nước khu vực châu Phi và châu Mỹ latin. Năm 2015, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tiếp tục ghi nhận các trường hợp mắc bệnh do virút Zika tại một số quốc gia khu vực châu Mỹ, châu Phi gồm một số nước như: Guatemala, Elsalvador, Venezuela, Senegal, Honduras, Panama, Brazil. Trong đó, quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Brazil, số trường hợp nhiễm bệnh đang gia tăng bất thường ở nước này. Ở châu Á, năm 2013, Thái Lan cũng đã ghi nhận một số trường hợp mắc bệnh do virút Zika. Tại Việt Nam, hiện nay đã phát hiện hai trường hợp nhiễm virút Zika ở Khánh Hòa và TP.HCM, hơn nữa, nước ta đang lưu hành bệnh sốt xuất huyết cùng với sự lưu hành của loại muỗi Aedes aegypti, đây là loài muỗi vừa làm lây truyền vi rút Zika và bệnh sốt xuất huyết. Đồng thời, hiện nay, virút Zika đã ghi nhận tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á, nơi có sự giao lưu du lịch, thương mại, lao động rất lớn, vì vậy, cần hết sức lưu ý đề phòng, nhất là đối tượng phụ nữ đang mang thai hoặc có ý định mang thai.

Cách tốt nhất là phòng muỗi đốt

Một người mắc bệnh virút Zika biểu hiện như thế nào?

Bệnh do virút Zika gây ra có biểu hiện nhẹ, thậm chí không triệu chứng và với 80% ca bệnh có thể tự khỏi.

Virút có thời gian ủ bệnh từ 3 - 12 ngày và có tới khoảng từ 60 - 80% người bị nhiễm virút Zika không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Thực chất, virút này không được xếp vào dạng nguy hiểm với người trưởng thành, do đó, người trưởng thành khi mắc bệnh sẽ có các triệu chứng tương tự như khi mắc sốt xuất huyết Dengue (sốt, xuất huyết dưới mọi hình thức như dưới da, nội tạng, đau mỏi cơ, khớp, đau mắt...), nhưng với mức độ nhẹ hơn. Trong khi đó, có một tỉ lệ thấp khi nhiễm virút Zika trong thời kỳ mang thai có thể gây khuyết tật teo não, đầu nhỏ bẩm sinh và kèm theo đó là chậm phát triển trí tuệ, bất thường thần kinh, rối loạn thính giác và thị giác.

Để chẩn đoán đúng bệnh do virút Zika gây ra, cần tiến hành ít nhất là hai phương pháp, đó là chẩn đoán huyết thanh học (tìm kháng thể trong máu người bệnh hoặc nghi mắc bệnh) và chẩn đoán sinh học phân tử, trong đó chẩn đoán bằng kỹ thuật sinh học phân tử là chính xác nhất.

Với thai phụ bị nhiễm virút Zika, để xác định thai nhi có bị đầu nhỏ hay không, các cơ sở khám thai ngoài nội dung khám thai thường quy, trong bối cảnh hiện nay, có thể có bệnh do virút Zika gây ra, cần hỏi tiền sử của thai phụ (có trở về từ vùng có dịch Zik hay không…). Đặc biệt khi siêu âm, bác sĩ cần chú trọng đến não của thai nhi có bất thường hay không (đầu nhỏ, giãn não thất, vôi hóa, teo não, hoặc không xác định được các bộ phận của não…).

Trường hợp phụ nữ mang thai có kết quả xét nghiệm dương tính với virút Zika, cần dựa vào siêu âm đo chu vi vòng đầu để đánh giá nguy cơ của bệnh Zika ảnh hưởng đến thai nhi. Nếu chu vi đầu phát triển bình thường, cần được theo dõi thai tiếp. Nếu nghi ngờ đầu nhỏ hoặc bất thường về não, thai phụ cần được chuyển đến cơ sở có khả năng chẩn đoán trước sinh để được chẩn đoán chính xác bằng các kỹ thuật khác nhau.

Có nên quá hoang mang, lo lắng?

Đúng là virút Zika có khả năng gây teo não thai nhi ở phụ nữ đang mang thai ở ba tháng đầu của thai kỳ. Tuy vậy, không phải tất cả các trường hợp nhiễm virút Zika đều gây hội chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh. Hơn thế nữa, căn bệnh này lây qua muỗi Aedes (muỗi vằn), không phải lây trực tiếp qua không khí, thức ăn, nước uống, thực phẩm, vì vậy, không để muỗi đốt là tránh được mắc bệnh.

Làm gì để bảo vệ mình không để muỗi đốt?

Cho đến nay chưa có thuốc đặc trị bệnh do virút Zika gây ra và chưa có vắc-xin phòng bệnh đặc hiệu. Tuy vậy, do đã biết chắc chắn bệnh do virút Zika gây ra chỉ lây truyền qua muỗi (muỗi vằn), do đó cần tránh muỗi đốt. Với thai phụ, nên lưu ý:

Đối với bản thân, cần tìm mọi biện pháp để ngăn ngừa muỗi đốt. Đặc điểm của muỗi vằn là đốt và hút máu người cả ngày, lẫn đêm, nhất là lúc sáng sớm và chiều tối. Vì vậy, cần mặc quần áo dài, đi tất, nằm ngủ phải có màn đảm bảo chất lượng (không thủng, không rách…) để tránh không cho muỗi chui vào đốt, ngay cả ngủ ban ngày. Khi đang mang thai, nhất là ba tháng đầu không nên đến vùng có dịch Zika (ngay cả phụ nữ có ý định mang thai cũng không nên đến vùng có dịch Zika) Khi nghi ngờ mắc bệnh, thai phụ cần đi khám bệnh ngay.

Đối với gia đình và cộng đồng, cùng với mọi người áp dụng các biện pháp từ dân gian đến dùng hóa chất để diệt muỗi (vợt diệt muỗi, hương muỗi, đèn diệt muỗi, phun hóa chất), bởi vì, không có muỗi, sẽ không có bệnh do virút Zika gây ra. Song song với diệt muỗi là diệt con đẻ của chúng là bọ gậy (lăng quăng) như thay nước ở lọ hoa hàng ngày, đậy kín chum, vại, lu đựng nước, khơi thông cống rãnh. Những gia đình có bể chứa nước sạch cần thả cá có khả năng ăn bọ gậy.

TS.BS. BÙI MAI HƯƠNG

Biến thiên huyết áp

Nguyên nhân biến thiên huyết áp

Huyết áp của cơ thể chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: thần kinh, thể dịch, sức co bóp của tim, sự co giãn của mạch máu. Chỉ cần có yếu tố gì đó, ví dụ như công việc, thời tiết, môi trường, tính cách, cảm xúc… khiến một trong các yếu tố này thay đổi thì huyết áp biến đổi theo.

Các kiểu biến thiên huyết áp sinh lý

Biến thiên huyết áp trong ngày: tùy vào công việc đang làm mà huyết áp sẽ tăng hay giảm. Những nghiên cứu cho biết trung bình thì cặp huyết áp tâm thu/ tâm trương khi ngủ giảm 10/ 7,6mmHg, khi hoạt động như xem tivi thì tăng 0,3/ 1,1mmHg, khi nói tăng 6,7/ 6,7mmHg, khi ăn tăng 8,8/ 9,6mmHg, còn khi đi lại tăng nhiều hơn nữa, 14/ 9,2mmHg. Nói chung, khi ngủ thì huyết áp giảm khoảng 10 - 20% so với mức huyết áp ban ngày, gọi là trũng huyết áp về đêm.

Biến thiên huyết áp trong tuần: nhiều khảo sát cho thấy huyết áp thấp nhất vào cuối tuần và số đo cao nhất vào thứ hai, do khởi đầu tuần với nhiều công việc ứ đọng.

Biến thiên huyết áp trong tháng: có tổng kết nêu lên huyết áp cao nhất vào tháng giêng, phải chăng vì những lo toan cho một năm mới, và thấp nhất vào tháng 7- 8, với những ổn định giữa năm.

Biến thiên huyết áp trong năm: ở các nước khí hậu lạnh, người ta nhận ra huyết áp cao nhất vào mùa đông giá lạnh( 1- 60C) và thấp nhất vào mùa hè(25 - 320C).

Ngoài ra, còn có biến thiên huyết áp qua từng phút, từng giờ hoặc xa hơn là qua từng năm, ứng với những thay đổi cơ thể do tuổi tác.

Các kiểu biến thiên huyết áp bệnh lý, đe dọa biến chứng mạch não, mạch vành tim

Tăng huyết áp ẩn giấu: huyết áp đo ở phòng khám thì bình thường nhưng đo ở nhà lại cao.

Tăng huyết áp áo choàng trắng: ngược với tình huống trên, huyết áp ở nhà bình thường nhưng đo ở phòng khám thì cao, có thể do quãng đường từ nhà đến phòng khám, thời gian và thủ tục chờ khám, phản ứng cảm xúc với nhân viên y tế… nên tăng huyết áp áo choàng trắng thường gặp hơn. Hầu hết bệnh nhân đều tự hỏi và tự lý giải đúng như vậy về sự khác biệt huyết áp này.

Thay đổi trũng huyết áp về đêm: khi ngủ, huyết áp giảm hơn 20% so với ban ngày(gọi là quá trũng) hoặc tăng cao hơn ban ngày(gọi là đảo trũng).

Tăng vọt huyết áp buổi sáng: chưa có sự thống nhất giữa các tác giả khi mốc thời gian đo huyết áp là 30 phút trước khi thức cho đến 1, 2, 3 hoặc 4 giờ sau khi thức, cũng như mức huyết áp bao nhiêu để gọi là tăng vọt. Theo tác giả Kario, trong vòng 1 giờ sau khi thức, sau khi tiểu, chưa ăn sáng, huyết áp cao hơn lúc ngủ > 55mmHg gọi là tăng vọt huyết áp buổi sáng.

Cách xác định biến thiên huyết áp

Đo huyết áp ở nhà: dùng máy đo huyết áp điện tử loại gắn ở cánh tay, nên đo 2 lượt trong khoảng 6 - 9 giờ sáng và 6 - 9 giờ tối; mỗi lượt 2 lần, mỗi lần cách nhau 2 - 3 phút. Nếu biến thiên 5 - 10 - 20mmHg thì không đáng lo, nếu mức biến thiên này tăng dần qua 1 tuần thì gặp bác sĩ.

Đo huyết áp 24 giờ: tùy trường hợp cụ thể mà bác sĩ sẽ cho bệnh nhân đeo máy Holter được lập trình đo huyết áp mỗi 15 - 30 phút vào ban ngày, và giãn ra 30 - 60 phút vào ban đêm, kể cả lúc thức hay ngủ. Tổng cộng đo khoảng 50 - 100 lần trong suốt 24 giờ. Người mang máy vẫn sinh hoạt như bình thường.

Biến thiên huyết áp trong ngày càng nhiều thì khả năng bị nhồi máu cơ tim, đột qụy não càng cao

Hậu quả của biến thiên huyết áp

Đã có nhiều công bố là người có biến thiên huyết áp bệnh lý (tăng huyết áp ẩn giấu, tăng huyết áp áo choàng trắng, thay đổi trũng huyết áp đêm, tăng vọt huyết áp buổi sáng…) và các bệnh nhân đang điều trị tăng huyết áp mà có mức biến thiên huyết áp qua các lần khám, hoặc biến thiên huyết áp trong ngày càng nhiều thì khả năng bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ não càng cao. Vẫn chưa có con số cụ thể để định mức biến thiên huyết áp bao nhiêu là nhiều hay ít. Nhưng có một điều đáng lưu tâm: nếu như trước kia người bệnh tăng huyết áp chỉ quan tâm đến số đo huyết áp của mình trong khoảng bình thường chưa (tức là huyết áp đo tại nhà trong khoảng 90/60mmHg đến dưới 135/85mmHg, đối với người trưởng thành), nay cần đánh giá thêm tình trạng biến thiên huyết áp nữa.

Giải quyết biến thiên huyết áp

Biến thiên huyết áp là mối quan tâm lớn khi điều trị người bệnh tăng huyết áp. Cần tránh những biến động tâm lý, cảm xúc, môi trường, công việc, hoạt động. Thận trọng khi dùng những thuốc hay chất có thể làm huyết áp tăng hay giảm. Ngày nay, có nhiều loại thuốc giúp huyết áp ổn định trong ngày, sẽ được bác sĩ chọn lựa tùy từng người khác nhau.

Như vậy, những thay đổi số đo huyết áp có thể là hiện tượng bình thường, nhưng cũng có thể là nguy cơ biến cố tim mạch cho người bị bệnh tăng huyết áp hay không, do tùy kiểu biến thiên huyết áp ra sao, điều này cần được đánh giá đúng bởi thầy thuốc chuyên khoa.

PGS.TS.BS. TRẦN KIM TRANG

(Đại học Y Dược TP.HCM)

Nhập viện cấp cứu vì uống nước sắc hồng xiêm trị tiêu chảy

Mùa hè với khí hậu nóng, ẩm là thời kỳ cao điểm các bệnh về đường tiêu hóa ở trẻ nhỏ, đặc biệt là bệnh tiêu chảy. Nhiều gia đình khi thấy con đi ngoài kéo dài, lo lắng sợ con sút cân, mất sức thường tìm các giải pháp nhằm cầm tiêu chảy cho con. Các biện pháp gia đình các bé thường sử dụng là nước sắc hoặc nước lọc từ các loại lá ổi, hồng xiêm giã nhỏ khiến bệnh không những không thuyên giảm mà còn kéo dài và nặng thêm.

Sau kỳ nghỉ lễ, bé Dương (3 tuổi, Thanh Hóa) đột ngột xuất hiện đi ngoài phân lỏng 3-4 lần/ngày. Thấy bệnh của bé kéo dài mấy ngày, lại nghe hàng xóm mách, bà nội cháu mua hồng xiêm xanh phơi khô rồi sắc cho Dương uống. Uống nước sắc được 2 ngày, số lần tiêu chảy của bé chẳng những không giảm, mà còn tăng lên nhiều lần, phải vào viện cấp cứu.

Cùng chung tâm lý muốn con nhanh khỏi bệnh, nhưng câu chuyện của anh Vinh (Vĩnh Phúc) lại xoay quanh việc lạm dụng kháng sinh. Con trai anh Vinh là bé Duy, 4 tuổi, sau mấy ngày đi mẫu giáo thì bị nôn, sốt và tiêu chảy. Nghĩ con mới đi học chưa quen đồ ăn nên anh Vinh mua thuốc kháng sinh tự điều trị cho con tại nhà. 3 ngày trôi qua mà sức khỏe bé không cải thiện, thậm chí con còn đi ngoài dữ dội hơn kèm theo đó là mệt lả người. Anh Vinh đưa con đến viện thì được các bác sĩ kết luận con anh mắc tiêu chảy do rotavirus. Kháng sinh cũng không có tác dụng trong trường hợp này.

Ảnh minh hoạ: Internet.

Theo TS.BS. Nguyễn Thị Việt Hà, Trưởng khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Nhi Trung ương, đây chỉ là 2 trong số các sai lầm thường gặp của các gia đình trong việc chăm sóc trẻ bị tiêu chảy. Những sai lầm thường gặp này bắt nguồn từ tâm lý nóng vội muốn con khỏi bệnh nhanh của người lớn nhưng cũng là nguyên nhân khiến tình trạng tiêu chảy của trẻ càng trở nên trầm trọng. Sử dụng các thuốc hoặc các biện pháp cầm tiêu chảy sẽ làm cho thời gian lưu trú của các virus, vi khuẩn trong đường tiêu hóa kéo dài hơn làm nặng thêm tình trạng tiêu chảy của trẻ và làm cho tiêu chảy kéo dài hơn. Việc tự ý sử dụng kháng sinh có thể làm rối loạn hệ vi khuẩn có ích trong đường tiêu hóa, làm tiêu chảy kéo dài, khiến trẻ hấp thu càng kém và lâu bình phục.

Tiêu chảy là một bệnh rất phổ biến ở trẻ, có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như nhiễm virus, vi khuẩn, ký sinh trùng đường ruột. Tiêu chảy cũng có thể là hậu quả của chế độ ăn không đúng cách như thay đổi thức ăn cho trẻ đột ngột, cho trẻ ăn các thức ăn khó tiêu hóa, ăn quá nhiều… hay do tác dụng phụ của các thuốc kháng sinh sử dụng trong điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn như nhiễm khuẩn tai mũi họng, viêm phổi…. Cũng theo BS. Hà, không phải trường hợp tiêu chảy nào cũng cần mang trẻ tới bệnh viện. Với những bé mất nước ở mức độ nhẹ (trẻ tỉnh táo, uống nước bình thường, không bị nôn trớ nhiều, khóc có nhiều nước mắt, miệng lưỡi trẻ ướt, cháu đi tiểu nhiều) gia đình hoàn toàn có thể chăm sóc con tại nhà, dự phòng mất nước bằng cách bù lượng nước tương đương với lượng nước trẻ mất trong phân sau mỗi lần đi ngoài. Phòng suy dinh dưỡng theo hướng dẫn của bác sĩ bằng cách tích cực cho trẻ ăn chế độ ăn như khi trẻ bình thường, không kiêng khem và không nên thay đổi thành phần thức ăn của trẻ. Kiêng khem quá mức sẽ làm cho cơ thể trẻ thiếu năng lượng, trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, không đủ năng lượng để chống đỡ với nhiễm trùng trong cơ thể cũng như chậm hồi phục tổ chức ruột bị tổn thương dẫn đến tiêu chảy kéo dài khiến các bé bị suy dinh dưỡng, ảnh hưởng tới sự phát triển. Các gia đình chỉ cần tạm ngưng các thực phẩm nhuận tràng, hạn chế đồ uống có ga và thức ăn quá ngọt…

Các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa khuyến cáo, các gia đình cần đưa trẻ đi khám ngay khi con có một trong những biểu hiện sau:

– Đi ngoài nhiều lần phân lỏng (đi liên tục).

– Nôn tái diễn, nôn nhiều làm trẻ không ăn uống được

– Bệnh trẻ nặng hơn, có sốt hoặc sốt cao hơn.

– Trẻ rất khát nước

– Ăn uống kém hoặc bỏ bú.

– Trẻ không tiến triển sau 2 ngày điều trị tại nhà.

Lê Mai

Phòng ngừa nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát

Nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN) có thể xảy ra ở tất cả các bộ phận trong hệ tiết niệu ở mọi lứa tuổi, giới tính khác nhau. Căn bệnh này không nặng nhưng lại dễ tái phát và gây ra những biến chứng nguy hiểm nếu không được phòng ngừa và điều trị sớm, tích cực.

Nguyên nhân do đâu?

Vi khuẩn thường gặp trong NKTN là: E.Coli gặp trong khoảng 80% các trường hợp; Proteus mirabilis là loại vi trùng dễ tạo ra sỏi; Enterobacter, Citrobacter...

Ngoài ra, trong các bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp là Chlammydia, lậu cầu... Hơn nữa, nước tiểu là môi trường rất thuận lợi cho sự sinh sôi phát triển của các loại vi khuẩn nói trên. Khi số lượng vi khuẩn trong nước tiểu đạt được số lượng cao sẽ gây NKTN. Do vậy, nguyên tắc vàng trong điều trị và ngăn ngừa NKTN là uống nhiều nước (trên 2l/ngày) và đi tiểu thường xuyên.

Vi khuẩn E.Coli có mặt trong đa số trường hợp viêm đường tiết niệu.

Ở phụ nữ: Trong trường hợp viêm bàng quang tái phát ở phụ nữ (trên 3 lần/năm), đặc biệt là viêm bàng quang sau giao hợp, các nguyên nhân thường do bất thường giải phẫu (hẹp lỗ tiểu, túi thừa niệu đạo...); Việc lau tại chỗ từ sau ra phía trước sau khi đại tiện dễ gây NKTN do đã kéo vi trùng có trong phân từ hậu môn đến lỗ tiểu; Vệ sinh không đúng cách sau khi giao hợp, khi kinh nguyệt, hay tình trạng táo bón thường xuyên có thể là nguyên nhân của NKTN. Nghiên cứu cũng cho thấy, phụ nữ mãn kinh có tỷ lệ NKTN cao do suy giảm nội tiết tố nữ, thay đổi độ pH nước tiểu.

Ở nam giới: NKTN thường gặp là viêm niệu đạo do quan hệ tình dục không an toàn; Ở đàn ông cao tuổi, NKTN thường gặp nhất liên quan đến bệnh phì đại tuyến tiền liệt gây chèn ép niệu đạo gây tắc dưới cổ bàng quang dẫn đến sự ứ đọng nước tiểu; Tất cả những nguyên nhân gây tắc, cản trở việc thoát nước tiểu đều là những yếu tố quan trọng gây NKTN: sỏi, hẹp niệu quản, chèn ép đường tiết niệu, xơ cứng cổ bàng quang, phì đại tuyến tiền liệt, hẹp niệu đạo...

Ở trẻ em: NKTN ở trẻ em nguyên nhân hay gặp nhất là các dị dạng tiết niệu bẩm sinh và điều trị nguyên nhân đó: luồng trào ngược bàng quang - thận, thận niệu quản đôi, van niệu đạo sau...

Biểu hiện thế nào?

Đôi khi NKTN không có triệu chứng gì nhất là ở người cao tuổi, ngoài sốt đơn thuần. Xét nghiệm nước tiểu có nhiều bạch cầu và nitrit. Cấy nước tiểu giúp xác định loại vi khuẩn và kháng sinh đồ rất hữu dụng cho việc lựa chọn kháng sinh hiệu quả nhất. Tùy vị trí viêm nhiễm của đường tiết niệu.

Viêm bàng quang thể hiện với tiểu buốt và tiểu dắt, tiểu máu. Nước tiểu đục, hôi. Thường có đau vùng bụng dưới.

Viêm niệu đạo có biểu hiện như viêm bàng quang và có thể kèm theo có mủ chảy ra từ lỗ tiểu. Thường do bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Viêm thận bể thận là một bệnh cảnh nhiễm khuẩn nặng nề với sốt cao 39-400C, kèm theo rét run, toàn trạng suy sụp. Đau vùng thắt lưng. Khám vùng thận có phản ứng. Có thể kèm theo các dấu hiệu tiểu tiện bất thường như trong viêm bàng quang.

Viêm tuyến tiền liệt có các triệu chứng tiểu buốt, tiểu gấp, tiểu dắt nhưng mỗi lần đi tiểu chỉ với số lượng ít. Bệnh nhân luôn có sốt cao, rét run, hội chứng cúm với đau mỏi cơ, nước tiểu có thể đục và thậm chí có mủ chảy qua niệu đạo. Đặc biệt là khi thăm trực tràng sẽ thấy tuyến tiền liệt rất đau. Có thể có cầu bàng quang.

Uống nhiều nước là cách tốt nhất ngừa tái phát nhiễm khuẩn tiết niệu.

Có thể dẫn đến các diễn biến xấu

NKTN thấp (viêm bàng quang, viêm niệu đạo) nếu điều trị muộn hoặc điều trị không hiệu quả sẽ diễn biến thành nhiễm khuẩn ngược dòng gây viêm thận bể thận.

Tất cả các NKTN có sốt (viêm thận bể thận, viêm tiền liệt tuyến) có thể dẫn đến biến chứng nhiễm khuẩn máu (vi trùng xâm nhập máu) với nguy cơ sốc nhiễm trùng rất nguy hiểm đến tính mạng.

Nhiễm khuẩn có thể gây áp-xe thận, hủy hoại thận hoặc có thể dẫn đến suy thận.

Viêm tiền liệt tuyến có thể gây biến chứng đặc hiệu là bí tiểu cấp tính hoặc viêm tinh hoàn.

Với phụ nữ có thai, tất cả các dạng NKTN đều nguy hiểm cho mẹ và cả thai nhi với nguy cơ sẩy thai hoặc đẻ non.

Dự phòng cách nào tốt nhất?

Các NKTN phải được điều trị hiệu quả ngay từ khi có triệu chứng đầu tiên để tránh dẫn đến biến chứng nặng. Chẳng hạn, từ viêm bàng quang đơn giản trở thành viêm thận bể thận dẫn đến ứ mủ thận hoặc áp-xe thận hay nặng hơn là nhiễm khuẩn máu với nguy cơ tử vong. Tuyệt đối không tự điều trị, nhất là không tự dùng lại số thuốc còn thừa của lần điều trị trước. Sử dụng kháng sinh bừa bãi dễ dẫn đến tình trạng vi khuẩn nhờn thuốc.

Dự phòng NKTN tái phát: NKTN tái phát rất hay gặp ở phụ nữ. Ngoài việc thực hiện những biện pháp dự phòng nêu trên, có thể phối hợp với thuốc Tây hoặc thuốc Nam. Với những bệnh nhân có NKTN tái phát thường xuyên (trên 2 lần/6 tháng) có thể sử dụng kháng sinh dự phòng liều thấp theo chỉ định của bác sĩ trong nhiều tháng hoặc ngược lại có thể dụng ngắt quãng (dùng kháng sinh 1 tuần, nghỉ 1 tuần sau đó dùng tiếp). Thường uống trước khi đi ngủ hay sau giao hợp. Ở phụ nữ thường gặp là viêm bàng quang tái phát, trong khi đó, ở nam giới lại là viêm tuyến tiền liệt mạn tính. Hiện nay, dùng vắc-xin (chiết xuất của E.Coli) có tác dụng miễn dịch với vi khuẩn này. Uống 1 viên/ngày trong 3 tháng, sau đó cứ 3 tháng lại uống nhắc lại 30 ngày trong thời gian 1 năm. Liệu pháp dự phòng này cho phép giảm rõ rệt số lần tái phát, mức độ nặng của mỗi đợt viêm bàng quang. Ngoài ra, uống thường xuyên nước râu ngô, bông mã đề cũng đưa lại hiệu quả trong dự phòng viêm bàng quang tái phát ở phụ nữ.

Nguyên tắc cơ bản trong điều trị NKTN là: kháng sinh + uống nhiều nước + xử lý yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, việc dự phòng là quan trọng bao gồm dự phòng yếu tố nguy cơ; dự phòng các biến chứng; dự phòng nhiễm khuẩn thứ phát.Dự phòng yếu tố nguy cơ NKTN: Uống đủ nước (trên 2 lít/ngày). Phân chia uống đều trong ngày. Khi đi xa bắt buộc phải đem theo nước uống; Không nhịn tiểu lâu. Việc giữ nước tiểu lâu trong bàng quang sẽ tạo ra hậu quả của bệnh lý “tồn đọng nước tiểu” là nguyên nhân thuận lợi cho NKTN; Ðiều trị các hội chứng rối loạn tiêu hóa đặc biệt là táo bón do vi khuẩn ứ đọng trong phân rất dễ gây NKTN.

BS. Lê Sĩ Trung

6 lợi ích của việc thiền định mỗi ngày

Thiền giờ đây được đông đảo mọi người đón nhận và xem như một phương pháp để giải tỏa căng thẳng, tìm lại sự bình an trong tâm hồn. Trong cuộc sống, chúng ta luôn phải đối mặt với nhiều điều khó khăn, những tranh chấp... Chỉ có một tâm hồn bình an mới tạo ra sức mạnh vô hình từ ngay bên trong để có thể vượt qua và chiến thắng!.

-Thiền thật sự đã có những lợi ích tuyệt vời cho sức khỏe con người. Ở Mỹ, hơn một nữa các Trường Y khoa, “Thiền” đã được đưa vào chương trình giảng dạy. Thiền giúp làm giảm các cơn đau vì vậy khuyến khích thiền định ở những người mắc ung thư hay ở những người cao tuổi có những cơn đau mãn tính.

 

-Nhiều nghiên cứu ở Mỹ cho thấy tác dụng tích cực của thiền đối với sức khỏe, đặc biệt đối với bệnh huyết áp, cholesterol xấu. Ngoài ra còn có tác dụng tốt cho một số bệnh như  tim mạch, nhiễm trùng. Những người thiền định thường ít có những lần phải kiểm tra sức khỏe, phải thăm khám bác sĩ hơn (giảm 44%).

- Thiền định giúp chúng ta xua tan những ý nghĩ “tiêu cực”. Ở những bệnh nhân trầm cảm, thiền là phương cách tốt nhất để dự phòng bệnh. Giúp bệnh nhân có cái nhìn tích cực hơn về cuộc sống, giúp vượt qua những stress trong cuộc sống hàng ngày.

- Thiền còn giúp chúng ta giải quyết những lo âu, những căng thẳng trong công việc cũng như trong cuộc sống. Giúp chúng ta ít nghiền ngẫm lại những băn khoăn  lo lắng đã qua, tránh những ý nghĩ tiêu cực, những suy nghĩ thất vọng!

Khi thiền bạn sẽ cảm nhận mối lo sợ về bệnh tật tan dần. Giúp tránh được những bất an mà đôi khi điều này đã hủy hoại trước khi bệnh tật giết chết chúng ta.

Đón nhận mọi thứ một cách bình tĩnh. Thậm chí, giữ được tinh thần lạc quan, chuẩn bị cho tất cả những điều tồi tệ nhất có thể xảy ra.

-Thiền giúp làm chủ bản thân trong các tình huống. Tránh những cơn bốc đồng, những cơn giận dữ…mà thay vào đó chúng ta bình tâm hơn, giữ được tỉnh táo và tránh những xung đột đáng tiếc có thể xảy ra!

- Thiền giúp chúng ta giữ được trạng thái cân bằng trong cơ thể đặc biệt về mặt cảm xúc, giúp não bộ tách khỏi thế giới bên ngoài để mỗi chúng ta trở về với “nội tại” của bản thân.

Nếu muốn có được sự tập trung tốt nhất để làm việc hay làm điều gì thì thiền định mỗi ngày là một bài tập đạt hiệu quả nhất. Nó sẽ giúp chúng ta luyện tập để có được sự tập trung cao nhất. Cái lợi lâu dài của thiền là có được cái tâm thanh thản.

 

Bs Ái Thủy

(theo Top Sante)

Phòng ngừa bệnh viêm tiểu phế quản cho trẻ

Viêm tiểu phế quản là bệnh hô hấp cấp tính thường gặp ở trẻ nhỏ. Bệnh thường do virut tấn công gây viêm tắc các đường hô hấp nhỏ (hay còn gọi là tiểu phế quản) và có thể bội nhiễm dẫn đến viêm phế quản. Ðồng thời, viêm tiểu phế quản dễ bị tái đi tái lại, dễ bị biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong.

Nguyên nhân và biểu hiện khi trẻ bị viêm tiểu phế quản

Tác nhân gây viêm tiểu phế quản ở trẻ thường là do virut như virut hợp bào hô hấp (VRS), có khả năng lây lan rất mạnh nên bệnh có nguy cơ xảy ra thành dịch và là một trong những nguyên nhân thường xuyên làm trẻ phải nhập viện. Virut cúm và á cúm và Adenovirus cũng gây bệnh cho nhiều trẻ bị viêm tiểu phế quản.

Viêm tiểu phế quản ở trẻ em là một bệnh hô hấp thường gặp.

Bệnh đa phần xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi, tần suất cao nhất là 3-6 tháng tuổi. Thành của các tiểu phế quản này không có sụn chỉ có cơ trơn nên dễ bị co thắt, xẹp lại khi bị viêm. Khi mắc bệnh, các phế quản nhỏ này bị viêm, sưng phù, tiết nhiều dịch làm cho đường thở của trẻ bị chít hẹp thậm chí tắc nghẽn. Vì vậy, trẻ sẽ bị khò khè, khó thở và nặng hơn nữa trẻ sẽ bị thiếu ôxy để thở.

Những trẻ sống trong vùng có dịch cúm hay viêm đường hô hấp trên (do virut hợp bào) thì tỷ lệ bị lây nhiễm rất cao do sức đề kháng ở trẻ còn yếu. Các bé hay bị viêm mũi họng, viêm amiđan, viêm VA, trẻ bị bệnh tim bẩm sinh hoặc trẻ bị bệnh phổi bẩm sinh... đều có nguy cơ cao mắc viêm tiểu phế quản nếu không được chăm sóc tốt.

Cha mẹ không được chủ quan khi thấy trẻ có những dấu hiệu triệu chứng ban đầu thường thấy như ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc cao. Sau từ 3- 5 ngày thì trẻ ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít. Tiếng thở có thể nghe ran rít, ran ngáy, thông khí phổi kém. Sau đó, trẻ ho nhiều hơn kèm khò khè và có thể bị khó thở (thở nhanh hơn, thở co kéo lồng ngực). Trẻ thở khó khăn nên trẻ quấy khóc, bỏ bú, da tái và tím. Diễn tiến suy hô hấp nặng, thậm chí ngừng thở nếu không kịp thời điều trị. Những trẻ đến viện khi thăm khám thường thấy nhịp thở của trẻ nhanh, sốt vừa, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp, lồng ngực bị rút lõm, trẻ thở rên. Bệnh có triệu chứng tương tự hen suyễn. Thông thường, trẻ sẽ khò khè kéo dài khoảng 7 ngày, ho giảm dần trong khoảng 14 ngày rồi khỏi hẳn nếu được chăm sóc tốt. Cá biệt, một số trường hợp ho sẽ kéo dài hơn trong nhiều tuần.

Biến chứng nào có thể xảy ra?

Tất cả các trường hợp trẻ mắc viêm tiểu phế quản nếu không được chẩn đoán bệnh và điều trị tốt sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như: rối loạn chức năng hô hấp, xuất hiện từng cơn khó thở ra tái phát, viêm tiểu phế quản lan tỏa. Nghiêm trọng hơn sẽ làm trẻ bị suy hô hấp cấp, tràn khí màng phổi, viêm phổi - trung thất, xẹp phổi và thậm chí tử vong. Bệnh sẽ có biến chứng nặng hơn ở trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ sinh non - nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng nặng, trẻ có sẵn bệnh tim, phổi, suy giảm miễn dịch. Hơn nữa, sự tái diễn nhiều lần của viêm tiểu phế quản còn là nguyên nhân gây ra hen phế quản sau này.

Chăm sóc trẻ mắc viêm tiểu phế quản

Nếu trẻ có dấu hiệu bệnh nhẹ, không có biến chứng, không có yếu tố nguy cơ thì có thể được chăm sóc tại nhà. Tiếp tục cho trẻ bú hay ăn uống đầy đủ. Cần cho trẻ uống nhiều nước để tránh thiếu nước. Cần làm thông thoáng mũi cho trẻ để giúp trẻ dễ thở hơn và bú tốt hơn. Có thể nhỏ mũi với 2-3 giọt nước muối sinh lý sau đó làm sạch mũi cho trẻ. Cho trẻ dùng thuốc đúng như chỉ dẫn của thầy thuốc. Tránh khói thuốc lá vì có thể làm bệnh của trẻ nặng hơn. Để giảm ho, long đờm cho bé có thể sử dụng mật ong hấp với quả quất còn xanh hoặc mật ong hấp lá hẹ. Nếu các biện pháp trên không mang lại hiệu quả, cần đưa bé tới bác sĩ khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Những trẻ có dấu hiệu nặng như khó thở, bú kém, tím tái... hoặc có các yếu tố nguy cơ như trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ sinh non, có bệnh tim phổi bẩm sinh, trẻ suy giảm miễn dịch thì cần nhập viện. Đối với trẻ bị bệnh tim, phổi bẩm sinh càng cần được chăm sóc và lưu ý kỹ hơn vì trẻ dễ mắc bệnh và tiến triển xấu.

Biện pháp phòng ngừa

Để phòng ngừa viêm tiểu phế quản và các bệnh lý viêm đường hô hấp ở trẻ, cần chăm sóc trẻ đúng cách, tăng cường sức đề kháng.

Cho trẻ bú mẹ ngay từ lúc mới sinh và duy trì sữa mẹ đến 2 tuổi. Khi trẻ được 6 tháng, cần cho trẻ ăn bổ sung. Tùy thể trạng từng trẻ, có thể tập cho trẻ ăn dặm từ từ, bắt đầu từ 5 - 6 tháng tuổi trở đi, bữa ăn của trẻ phải bao gồm đầy đủ bốn nhóm dinh dưỡng chính: tinh bột, chất đạm, rau xanh - trái cây, dầu thực vật. Cho trẻ uống đủ nước.

Tiêm phòng cho trẻ đầy đủ và đúng lịch theo hướng dẫn của cán bộ y tế.

Chú ý mặc quần áo thích hợp cho trẻ, thoáng mát về mùa hè, giữ ấm trong mùa đông, khi thời tiết giao mùa chuyển nóng hoặc lạnh đột ngột cần thường xuyên thay quần áo phù hợp, không để trẻ bị lạnh hay ra quá nhiều mồ hôi. Phòng ngủ của trẻ cần được đặc biệt thông thoáng, trong lành. Không nên trải thảm trong phòng trẻ. Nên thường xuyên giặt chăn, gối dành cho trẻ, sau đó phơi nắng thật khô.

Giữ cho môi trường trẻ ở được trong lành, không cho trẻ tiếp xúc với khói bụi, khói thuốc lá. Cha mẹ và người chăm sóc trẻ cần rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ vì virut gây bệnh lây lan chủ yếu qua việc tiếp xúc trực tiếp. Tránh để trẻ tiếp xúc gần với trẻ lớn, người lớn đang bị viêm đường hô hấp cũng như các trẻ bệnh khác. Cha mẹ nên vệ sinh cơ thể, đặc biệt là khu vực tai, mũi, họng cho trẻ hằng ngày.

Khi có những biểu hiện sốt, ho, sổ mũi, bú kém, bỏ bú... cần đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời.

BS. Lê Anh

7 hệ lụy sức khỏe do béo phì

1. Ung thư

Theo nghiên cứu ở 5,4 triệu người thì cứ tăng 1 điểm về chỉ số khối lượng cơ thể hay BMI trong dân số chung sẽ có thêm 3.790 người mắc bệnh ung thư mỗi năm. Trong khi đó, BMI trung bình của người dân Mỹ hiện đã tăng gần 2,5 điểm ở đàn ông và gần 4 điểm ở phụ nữ kể từ năm 1971 đến nay. Theo Viện Ung thư Quốc gia, béo phì làm tăng 34.000 ca ung thư ở nam giới và 50.000 ở phụ nữ Mỹ mỗi năm. Nhưng nếu nhóm trưởng thành giảm chỉ số BMI 1%, 2,2 pound (1kg) thì có thể tránh được 100.000 ca ung thư mới mỗi năm.

Chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) được tính bằng công thức BMI = trọng lượng: (chiều cao)2. Trọng lượng tính bằng kg, chiều cao tính bằng mét. Ví dụ, một người nặng 55kg, cao 1,6m thì BMI= 55 : (1,6)2 = 21,48. Phân loại béo phì dựa trên chỉ số BMI: 18,5- 24,9 là bình thường; 25,0–29,9 là thừa cân; 30,0–34,9 là béo phì độ I; 35,0–39,9 là béo phì độ II và trên 40,0 là béo phì độ III.

2. Đau nửa đầu

Một nghiên cứu mới được công bố cho thấy, bệnh đau nửa đầu thực sự có liên quan đến trọng lượng. Nghiên cứu này do ĐH y khoa Johns Hopkins thực hiện ở gần 4.000 người, theo đó, chỉ số MBI càng cao thì nguy cơ đau nửa đầu càng lớn. Những người béo phì có nguy cơ đau nửa đầu ít nhất 14 lần/tháng cao tới 81% so với những người có MBI ở ngưỡng tối ưu, riêng phụ nữ trên 50 nếu béo phìdễ bị đau nửa đầu mạn tính.

Người béo phì dễ mắc bệnh ung thư, đau nửa đầu, rối loạn giấc ngủ...

3. Nguy cơ hiếm muộn

Theo nghiên cứu của Ấn Độ ở 300 phụ nữ béo phì, phụ nữ thừa cân trở lên rất khó mang thai, hơn 90% trong số này phát triển bệnh đa nang buồng trứng - dạng bệnh dễ dẫn đến vô sinh. Còn theo nghiên cứu của Đại học y khoa Columbia, Mỹ, lý do của hiện tượng này là những thay đổi hormon được sản xuất bởi các mô mỡ. Chính điều này nhiều cơ sở khám và điều trị vô sinh ở Mỹ không muốn điều trị cho phụ nữ có chỉ số BMI cao. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể mang thai chỉ vài tháng sau khi phẫu thuật giảm cân.

4. Sinh non

Nhóm phụ nữ dư thừa trọng lượng béo phì là nhóm rất khó giữ thai, dễ bị sinh non - đó là kết luận trong một nghiên cứu mới nhất vừa đăng trên tạp chí American Medical Association, nhất là nhóm có chỉ số BMI trên 35. Các tác giả nghiên cứu cho rằng, quá nhiều mỡ sẽ "gia nhiệt" gây nóng và làm suy yếu tử cung và màng tử cung. Dù lý do nào chăng nữa, sinh non cũng để lại nhiều hệ luỵ, nhất là tỷ lệ tử vong và khuyết tật kéo dài ở trẻ sơ sinh.

5. Rối loạn giấc ngủ

Các chuyên gia ở BV Mayo Clinic - Mỹ vừa kết thúc nghiên cứu cho hay, giấc ngủ và dư thừa trọng lượng có nhiều quan hệ mật thiết. Gần 80% số người lớn tuổi ở Mỹ béo phì gặp rắc rối về giấc ngủ. Ngủ kém làm tăng hàng loạt các loại bệnh như đái tháo đường, tim mạch và trớ trêu thay, nó lại làm tăng chính căn bệnh béo phì của người trong cuộc. Rất nhiều nghiên cứu cho thấy thiếu ngủ phát sinh vòng bụng to. Ví dụ, những người ngủ ít hơn 5 tiếng/đêm mắc chứng "bụng bia" cao gấp 15% so với nhóm ngủ ít nhất 7 tiếng. Một trong những nguy cơ sức khỏe trực tiếp từ béo phì là chứng ngưng thở khi ngủ, thở hổn hển hoặc ngừng thở giây lát khi ngủ. Hiện tượng này được gây ra bởi sự gia tăng chất béo xung quanh vùng cổ, nó chèn ép và làm hẹp đường khí thở vào - ra, nhất là khi nằm ngửa, gây giảm chất lượng giấc ngủ, có ít oxy trong máu, buộc tim phải làm việc nhiều hơn.

6. Phát sinh bệnh tâm thần

Theo nghiên cứu của ĐH Yale (UoY), Mỹ, mặc dù những người béo thường dễ bị cộng đồng trêu đùa, nhưng họ thường bị kỳ thị, nhạo báng và dễ bị bắt nạt ở mọi lứa tuổi, gây giảm lòng tự trọng, phát sinh nhiều bệnh tâm thần như mặc cảm, tự ti, trầm cảm và nặng hơn có thể làm tăng nguy cơ tự tử. Cụ thể, 40% trẻ em tìm cách điều trị để giảm cân nói rằng họ đã bị bắt nạt hay trêu chọc bởi ngay thành viên trong gia đình, nếu phụ nữ béo phì, mức độ bị kỳ thị càng cao, 72% phụ nữ béo phì được hỏi có ít nhất một thành viên trong gia đình họ nhạo báng. Với nghiên cứu trên, những người xung quanh, thành viên gia đình nên thay đổi cách nhìn, đối xử tốt với người bị béo phì hơn sẽ có lợi, giúp họ giảm cân nhanh, bởi đây là bệnh chứ không phải tật nên cần có sự thông cảm ngay chính trong gia đình.

7. Khó tìm bác sĩ

Cũng theo nghiên cứu của UoY, sau nhạo báng, kỳ thị thì những người béo phì khó tìm bác sĩ để chữa trị bệnh. Cụ thể, 67% đàn ông và phụ nữ thừa cân bị xấu hổ hay bị bắt nạt ngay trong văn phòng bác sĩ, 50% bác sĩ chữa bệnh phát hiện thấy nhóm bệnh nhân béo phì "vụng về, xấu xí, yếu ý chí và dường như không tuân thủ điều trị" và 24% y tá từ chối điều trị bệnh nhân béo phì. Chính điều này làm tăng sự tự ti của người bệnh và thực tế, chính nhóm người này cũng rất ngại đến gặp bác sĩ nên việc điều trị cho chính bản thân gặp nhiều khó khăn.

DS. Chu Trang Nhung

((Theo ABCNews, 4/2016))